Lọc ion & nhiễm bẩn phospholipid
HydridSPE®-Phospholipid Technology
Trong phân tích sinh học dược phẩm, các nhà nghiên cứu phát triển và thực hiện nhiều xét nghiệm khác nhau để định lượng thuốc, ứng cử viên dược phẩm và các chất chuyển hóa của chúng trong chất lỏng sinh học như huyết thanh hoặc huyết tương. Dữ liệu thu được từ các xét nghiệm này được sử dụng để giúp xác định các đặc tính dược động học và dược động học cũng như nồng độ độc hại và điều trị của các hợp chất dược phẩm hiện có và mới nổi. Mặc dù những tiến bộ trong công nghệ LC-MS đã thu được lợi ích vượt trội về mặt thông lượng và độ nhạy tăng lên, việc chuẩn bị mẫu tốt tiếp tục là một thành phần quan trọng của phân tích sinh học.
Section Overview
- Phospholipid & Ion-Suppression (bằng tiếng Anh)
- Vì sao phospholipid khó loại bỏ trong quá trình chuẩn bị mẫu?
- Sản phẩm liên quan
Phospholipid & Ion-Suppression (bằng tiếng Anh)
Hậu cảnh quá mức từ các thành phần ma trận nội sinh luôn là mối quan tâm lớn hơn trong phân tích sinh học, và đã trở thành tối quan trọng với thời gian chạy phân tích giảm. Trong quang phổ khối phân tích sinh học, vấn đề nền quá mức góp phần vào vấn đề ngày càng tăng của ức chế ion.
Ức chế ion được gây ra bởi một hoặc nhiều thành phần hoặc loài can thiệp cùng nhau với (các) chất được phân tích trong phân tích LC-MS và biểu hiện như là mất đáp ứng của chất được phân tích. Những loài đồng loại này có thể ảnh hưởng đến sự hình thành giọt nước hoặc ion hóa đồng thời dẫn đến giảm sai sót (ức chế) hoặc tăng (tăng cường) trong phản ứng tín hiệu. Kết quả cuối cùng là khả năng tái tạo, độ chính xác và độ nhạy kém của xét nghiệm. Những tác động có hại như vậy thường đáng chú ý nhất ở giới hạn số lượng thấp hơn (LLOQ).
Một trong những nguyên nhân chính gây ức chế ion trong phân tích sinh học là sự hiện diện của phospholipid trong phân tích LC-MS ở chế độ phun điện ion dương (+ESI). Phospholipid phổ biến ở nồng độ cực cao trong chất lỏng sinh học dựa trên máu (~ 1 mg / mL); và đại diện cho thành phần lipid lớn thứ hai trong ma trận sinh học sau triglyceride. Hình 1compares Các sắc ký LC-MS của hai mẫu huyết tương chuột chạy clonidine được xử lý bằng kết tủa protein tiêu chuẩn một mình và kết tủa protein sau đó loại bỏ phospholipid. Khi kết tủa protein tiêu chuẩn được sử dụng, sự ức chế tín hiệu nghiêm trọng của clonidine là hiển nhiên. Ngược lại, bằng cách loại bỏ nhiễu phospholipid trước khi phân tích, đáp ứng với clonidine đã gần gấp đôi.
Vì sao phospholipid khó loại bỏ trong quá trình chuẩn bị mẫu?
Khi xử lý các mẫu huyết tương/huyết thanh cho LC-MS, ba kỹ thuật chuẩn bị mẫu phổ biến nhất là kết tủa protein (protein ppt), chiết xuất lỏng (LLE) và chiết xuất pha rắn (SPE). Mỗi kỹ thuật cung cấp những lợi thế độc đáo được xem xét trong quá trình phát triển phương pháp. Ví dụ, các phương pháp protein ppt đơn giản (2-3 bước), nhanh và thường không yêu cầu phát triển phương pháp. Tuy nhiên, kỹ thuật này cung cấp tính chọn lọc tối thiểu vì nó chỉ loại bỏ tổng mức protein khỏi mẫu trước khi phân tích. Ngược lại, SPE mang lại lợi ích đáng kể về tính chọn lọc/dọn dẹp mẫu, nhưng kỹ thuật này đòi hỏi trình độ chuyên môn vừa phải đến rộng và có thời gian để phát triển phương pháp thích hợp. Ngoài ra, SPE thường yêu cầu nhiều bước (5-8) dẫn đến tăng thời gian xét nghiệm.
Do bản chất của phospholipid, không có kỹ thuật chuẩn bị mẫu chính thống nào (protein ppt, LLE và SPE) cung cấp tính chọn lọc thích hợp để phân biệt phospholipid với các chất được phân tích quan tâm. Hình 2describes Hiện tượng này.

Hình 1.Tác dụng phospholipid đối với ion hóa clonidine

Hình 2.Phospholipid đồng chiết xuất với các chất được phân tích quan tâm khi sử dụng các kỹ thuật chuẩn bị mẫu truyền thống
Protein PPT - Không loại bỏ phospholipid
- Sẽ chỉ loại bỏ tổng mức protein
LLE – Không loại bỏ phospholipid
A. phospholipid sẽ đồng chiết xuất với các chất được phân tích do đuôi kỵ nước
SPE - Loại bỏ phospholipid danh nghĩa
B. Phase ngược – phospholipid sẽ đồng chiết xuất với các chất được phân tích do đuôi kỵ nước
C. Trao đổi ion/chế độ hỗn hợp – phospholipid sẽ đồng chiết xuất với các chất được phân tích do nhóm đầu cực zwitterionic